Cơ sở pháp lý của hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam dựa trên hệ thống luật và nghị định chuyên biệt, trong đó Luật Thương mại 2005 là nền tảng chính cùng với các nghị định và văn bản hướng dẫn liên quan.
Khung pháp luật điều chỉnh
- Luật Thương mại 2005 (Điều 284 - Điều 292) là văn bản pháp luật đầu tiên ghi nhận và chính thức hóa hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam.
- Nghị định 35/2006/NĐ-CP quy định chi tiết về hoạt động nhượng quyền thương mại và sau này có sự sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 08/2018/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh đối với thương nhân nhượng quyền.
Điều kiện hoạt động nhượng quyền
- Hệ thống kinh doanh dự kiến nhượng quyền phải hoạt động ít nhất 1 năm trước khi tiến hành nhượng quyền; quy định này được cụ thể hóa tại Nghị định 08/2018/NĐ-CP và Luật Thương mại 2005.
- Chủ thể tham gia nhượng quyền phải là pháp nhân độc lập, tự chịu trách nhiệm pháp lý và tài sản riêng biệt thông qua hợp đồng thương mại.
- Việc đăng ký hoạt động nhượng quyền với Bộ Công Thương từng là bắt buộc, tuy nhiên hiện đã được đơn giản hóa nhằm tạo điều kiện doanh nghiệp phát triển mô hình nhượng quyền.
Nội dung hợp đồng và bảo vệ quyền lợi các bên
- Hợp đồng nhượng quyền phải lập bằng văn bản hoặc hình thức tương đương, với các nội dung cơ bản về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm các bên, giá trị chuyển giao, điều kiện kiểm soát chất lượng, hỗ trợ đào tạo vận hành.
- Bên nhận quyền phải tuân thủ mô hình kinh doanh, hệ thống tiêu chuẩn của bên nhượng quyền; đồng thời được độc lập về tư cách pháp lý và tài sản.
Một số quy định bổ sung quan trọng
- Các tranh chấp trong hoạt động nhượng quyền được xử lý căn cứ trên hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật dân sự và thương mại.
- Việc đăng ký nhãn hiệu, sở hữu trí tuệ trước khi chuyển giao, bảo vệ bí quyết kinh doanh và quyền tài sản là yêu cầu bắt buộc.
- Hiện tại chưa có luật riêng về nhượng quyền thương mại, nhưng các quy định liên quan được tích hợp trong nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ.
Như vậy, hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam có nền tảng pháp lý tương đối hoàn chỉnh, đảm bảo cho quá trình đầu tư, khai thác và bảo vệ quyền lợi các bên hợp tác kinh doanh theo mô hình này.