Người đại diện pháp luật trong doanh nghiệp nếu vi phạm các quy định pháp luật có thể phải chịu trách nhiệm dân sự và hình sự tùy theo tính chất và mức độ vi phạm.
Trách nhiệm dân sự
- Nếu người đại diện thực hiện giao dịch vượt quá phạm vi đại diện mà không được sự đồng ý hoặc không được chấp nhận của doanh nghiệp, người đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh đối với bên thứ ba hoặc doanh nghiệp theo quy định tại Điều 143 Bộ luật Dân sự 2015.
- Thành viên công ty có thể khởi kiện người đại diện pháp luật về trách nhiệm dân sự khi vi phạm nghĩa vụ quản lý, không thực hiện hoặc thực hiện trái quy định pháp luật, điều lệ công ty gây thiệt hại cho doanh nghiệp theo Điều 72 Luật Doanh nghiệp 2020.
- Người đại diện phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với các thiệt hại do hành vi sai phạm gây ra cho doanh nghiệp hoặc bên thứ ba.
Trách nhiệm hình sự
- Người đại diện pháp luật có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu vi phạm pháp luật đến mức cấu thành tội phạm, ví dụ: chiếm đoạt tài sản, gian lận thương mại, tham ô, thuốc trách nhiệm quản lý tài sản,...
- Trách nhiệm hình sự được áp dụng khi có hành vi phạm tội rõ ràng và đủ điều kiện theo Bộ luật Hình sự, và người đại diện có thể bị khởi tố, truy tố, xét xử trước pháp luật.
- Trong trường hợp doanh nghiệp bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người đại diện sẽ là người đại diện chịu trách nhiệm tham gia các hoạt động tố tụng và xử lý hậu quả pháp lý.
- Nếu người đại diện không còn đủ điều kiện tham gia tố tụng, doanh nghiệp phải chỉ định người thay thế theo quy định.
Tóm lại, người đại diện pháp luật không chỉ phải tuân thủ nghĩa vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp theo pháp luật mà còn phải chịu trách nhiệm pháp lý nghiêm minh nếu vi phạm, bao gồm cả trách nhiệm dân sự và hình sự tùy theo mức độ vi phạm và hậu quả gây ra. Việc này nhằm bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.